Thời Tiết

 

 

Tỷ Giá

Chính Trị
Chủ tịch Hồ Chí Minh với bài Quốc ca Việt Nam

ct hcm voi quoc caQuốc ca Việt Nam ra đời đã được 65 năm - cùng với Quốc kỳ, Quốc huy và thủ đô Hà Nội - Quốc ca Việt Nam đã hoà vào máu thịt của mỗi người dân đất Việt.

Dù ở đâu trên trái đất này, nếu ai đó hát Quốc ca Việt Nam thì hãy tin rằng đó là người bạn, người đồng chí của chúng ta. Nhưng cũng ít ai biết rằng Quốc ca Việt Nam gắn liền với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những ngày sôi nổi của Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám. Chính Người đã lựa chọn và sửa chữa để trở thành bài ca bất diệt của nước Việt Nam mới.

Trong những ngày tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8.1945, Hội nghị quốc dân đã được thành lập với Chủ tịch là Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch là Trần Huy Liệu. Hội nghị quốc dân đã nhất trí thông qua Quốc kỳ, Quốc huy và thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Thủ đô là Hà Nội - đất đế đô ngàn năm văn vật, xứ sở của rồng vàng và bóng nước Hồ Gươm. Quốc kỳ là lá cờ nền đỏ, giữa có ngôi sao vàng năm cánh. Còn bài Quốc ca, Hồ Chủ tịch đã giao nhiệm vụ tuyển chọn cho một số người với yêu cầu: Quốc ca phải hào hùng, thể hiện ý chí của dân tộc, lời lẽ dễ hiểu, dễ phổ cập trong dân chúng.

Ban tuyển chọn quốc ca đã trình lên Hội nghị quốc dân và Hồ Chủ tịch 3 bài là: “Cùng nhau đi Hồng binh” của Đỗ Nhuận, “Diệt phátxít” của Nguyễn Đình Thi và “Tiến quân ca” của Văn Cao, cả 3 bài hát đều có thể trở thành quốc ca, vấn đề ở chỗ chỉ được phép lấy một bài thật tiêu biểu. Và Bác Hồ đã có sự lựa chọn chính xác, để thông qua Ban Thường vụ Hội nghị quốc dân và Ban Thường vụ Trung ương Đảng.

Về bài “Cùng nhau đi Hồng binh” thì Hồ Chủ tịch không đồng ý, tuy Người không nêu rõ lý do. Nhưng có lẽ “Cùng nhau đi Hồng binh” lời ca còn đơn giản, còn lặp lại điệp khúc nhiều lần. Cho dù bài hát có ngôn ngữ dễ hiểu, nôm na và dễ phổ cập.

Được Nguyễn Đình Thi sáng tác trong cao trào kháng Nhật cứu nước, “Diệt phátxít” là ca khúc rất được phổ biến lúc bấy giờ, nhất là đối với tầng lớp thanh niên, học sinh. Âm điệu và lời hát hào hùng, như một tiếng kèn xung trận thúc giục mọi người xông lên giết giặc cứu nước. Tuy nhiên, bài hát cũng không được Bác Hồ lựa chọn, theo Người thì ca khúc này lời hơi dài, khó phổ cập. Mặt khác, một số từ ngữ dùng vào quốc ca là chưa thích hợp. Ví dụ như câu “Diệt phátxít cùng bầy chó đê hèn của chúng”. Có lẽ Người muốn quốc ca không những sâu sắc về nội dung, mà còn phải đẹp về lời ca, từ ngữ.

“Tiến quân ca” được Văn Cao sáng tác đầu năm 1945. Cùng với “Du kích ca”, “Tiến quân ca” như mang được cả hình ảnh những chiến sĩ giải phóng từ chiến khu trở về. Bài hát gợi lên không khí trang nghiêm, hào hùng của những đoàn quân theo nghĩa lớn, sẵn sàng chiến đấu hy sinh “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”. Bài hát có nhịp điệu thong thả như một khúc quân hành, như hiệu lệnh cho cả dân tộc tiến lên theo cờ Đảng để giải phóng non sông. Mặc dù bận rất nhiều công việc, Bác Hồ đã xem xét và sửa chữa một cách cẩn thận bài “Tiến quân ca”. Người đã sửa chữa một số câu từ, như câu mở đầu của “Tiến quân ca”, nguyên bản là “Đoàn quân Việt Minh đi...”, Người đã sửa lại là “Đoàn quân Việt Nam đi...”; hoặc câu “Thề phanh thây uống máu quân thù...”, Người đã sửa lại “Đường vinh quang xây xác quân thù...”. Rõ ràng những câu chữa lại của Bác Hồ chính xác hơn, đẹp hơn và đáp ứng yêu cầu của bài Quốc ca Việt Nam.

Sau khi cân nhắc kỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ban Thường vụ T.Ư Đảng và các vị trong Hội nghị quốc dân đã nhất trí lấy “Tiến quân ca” làm Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngày 2.9.1945, trong không khí tưng bừng của lễ Tuyên ngôn Độc lập, Quốc ca Việt Nam đã vang lên trong hàng triệu trái tim của con dân Việt Nam, báo hiệu một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc. Nhắc lại sự kiện này, cố nhạc sĩ Văn Cao đã nói: Đây là hạnh phúc lớn lao nhất của đời tôi, là niềm tự hào không bao giờ quên khi được lãnh tụ kính yêu sửa chữa một tác phẩm nghệ thuật của mình.

Quốc ca Việt Nam đã trở thành một phần máu thịt của tổ quốc và chắc chắn còn trường tồn rất lâu dài với lịch sử dân tộc. Cũng như bài Mácxâye, Quốc ca Pháp đã có lịch sử trên 200 năm, mặc dù nước Pháp từ cách mạng tư sản 1789 đến nay đã có bao nhiêu thay đổi. Cùng với suy nghĩ như vậy, tin chắc rằng “Tiến quân ca” mãi mãi là “Quốc ca Việt Nam” theo cùng với dân tộc trong công cuộc xây dựng “đất nước dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

(Tư liệu bài này từ lời kể của cố nhạc sĩ Văn Cao và nhạc sĩ Lê Mây)

Hồ Thức Hoà

 

Cập nhật ngày Thứ sáu, 03 Tháng 9 2010 15:15
 
Điều ít biết về ngày Tuyên ngôn Độc lập 2.9

Là người Việt Nam, ai cũng biết về ngày 2 tháng 9 năm 1945, ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khẳng định nước Việt Nam độc lập - tự do trước toàn thế giới.

Sau khi đã họp với Thường vụ Trung ương Đảng quyết định chọn ngày 2.9 để tổ chức đại lễ Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra mắt quốc dân, Bác Hồ hỏi ý kiến đồng chí Trường Chinh ai có thể cáng đáng việc tổ chức ngày độc lập này? Suy nghĩ một lát, đồng chí Trường Chinh trả lời là ông Nguyễn Hữu Đang (1913-2007, đảng viên năm 1939, Ban Trị sự Hội Truyền bá quốc ngữ, hoạt động trong Hội Văn hoá cứu quốc ngay từ đầu, sau đó bị Pháp bắt, vừa được đi dự Quốc dân Đại hội Tân Trào trở về, vừa mới được cử làm Thứ trưởng Bộ Tuyên truyền). 

Trong cuốn hồi ký của mình, cụ Đang nhớ lại ngày 28.8.1945, Bác Hồ gọi cụ tới gặp để trao nhiêm vụ Trưởng ban tổ chức Ngày Độc lập. Bác hỏi: Chú có làm được không?

"...Tôi hiểu là không thể hoãn. Cụ Hồ giục tôi về ngay để bắt tay vào việc. Tôi không về nhà mà đi thẳng đến Bộ Tuyên truyền, gọi dây nói cho các báo hàng ngày, yêu cầu họ nghe tôi đọc chậm một thông báo thượng khẩn về một ngày đại lễ mà tôi nghĩ ra ngay một cái tên gọi rất hợp, làm nổi bật ý nghĩa lớn là “Ngày Độc lập”. Tôi yêu cầu – vì đã được Cụ Hồ cho phép - họ phải đăng kịp vào số báo ra sáng ngày mai.

Đêm ấy - đêm 28.8.1945, Cụ Hồ thức suốt sáng để viết Tuyên ngôn Độc lập, còn tôi ở lại Bộ Tuyên truyền cũng thức suốt đến sáng để nghiên cứu kế hoạch, chương trình tổ chức “Ngày Độc lập”. Trời sáng rõ, tôi nhờ Trần Kim Xuyến, Đổng lý Văn phòng Bộ Tuyên truyền liên lạc ngay với Trần Lê Nghĩa, Phạm Văn Khoa ở Hội Truyền bá quốc ngữ, Nguyễn Huy Tưởng, Lưu Văn Lợi ở Hội Văn hoá cứu quốc, Nguyễn Dực ở Đoàn hướng đạo (Tráng sinh), Trần Lâm ở Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam, và một số bạn đã cùng hoạt động xã hội với tôi nhiều năm ở thủ đô để thành lập ban tổ chức ngay tối hôm 29.8.1945...” (trích hồi ký cụ Nguyễn Hữu Đang).

Nhìn lễ đài ngày Tuyên ngôn Độc lập năm ấy, ai cũng thấy giản dị nhưng thật trang nghiêm. Đạt được kết quả như vậy mà lại trong một thời gian chỉ có gần hai ngày, là công sức đóng góp của kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh. Sáng 1.9.1945, ông Phạm Văn Khoa tìm đến ông, trao đổi yêu cầu nhiệm vụ với ông, ông phấn khởi nhận lời và hẹn ông Khoa đến 12 giờ trưa hôm ấy quay lại xem bản vẽ. Ngay lập tức, ông Quỳnh chuẩn bị mấy thứ nhà nghề, đi ngay đến vườn hoa Ba Đình để khảo sát thực địa và vẽ 3 kiểu. 12h30 ngày 1.9, bản vẽ lễ đài được thông qua. Lễ đài bắt đầu được thi công. Mọi người làm việc không kể giờ giấc. Gần 6 giờ sáng hôm sau (ngày 2.9), lễ đài được hoàn thành, cao hơn 4 mét, rộng và sâu hơn 4m, trên đó có một cột cờ cao hơn 10m, hai bên có hai lư hương lớn bằng gỗ.

Khung lễ đài đã cơ bản xong, tuy nhiên không thể thiếu các phương tiện thông tin như loa đài, micrô, máy khuếch đại để đảm bảo cho hơn nửa triệu người nghe được đầy đủ. Công việc tưởng như đơn giản nhưng lại rất hệ trọng này đã có ông Nguyễn Dực ở Đoàn hướng đạo lo. Ông Dực đã được biết việc này sớm hơn ông Ngô Huy Quỳnh, nên ông đã tức tốc đi lo được 7 cái loa to và lắp ráp được 3 máy khuếch đại 40W cùng 3 micrô ( tất cả dụng cụ này đều là của riêng của ông Dực).

Ai cũng lo loa đài chỉ có như vậy khó mà đủ công suất để phục vụ. Vốn là một chuyên gia lâu năm, với nhiều kinh nghiệm làm việc, ông đi cùng một số anh em để bàn bạc công việc cụ thể vị trí đặt 7 cái loa và đo khoảng cách với lễ đài để dự trù đường dây loa. Mãi sáng mùng 2.9, lễ đài mới dựng xong, đang trang trí bên ngoài thì nhóm ông Dực mới đặt được máy, đến 11 giờ trưa mới thử được máy, đi đến từng loa nghe rất tốt... lác đác có những đoàn đã đi vào quảng trường.

Đúng 2 giờ chiều thì đoàn xe có 2 ôtô đi đến lễ đài, theo sau là cả một đoàn xe đạp. Có hai xe máy đi hai bên... Khi cả đoàn đã đi lên trên lễ đài, thì vừa có tiếng hô: “Nghiêm! Chào cờ!”. Đoàn quân nhạc xếp hàng trước lễ đài cử bài “Tiến quân ca”. Qua khe hở của sàn lễ đài, ông Dực lần đầu tiên được thấy rõ Hồ Chủ tịch cao và gầy. "Khi vừa chào cờ xong thì Hồ Chủ tịch nhìn vào 3 micrô và sẽ thổi trước micrô “Philíp” ở giữa, đèn báo trên máy đỏ lên và lập tức có tiếng “phù” từ cái loa dội lại. Hồ Chủ tịch lùi lại một chút rồi nói: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Ở dưới đã vang lên: “Có ạ”.

Tôi đã từng lắp micrô nhiều lần, nhưng lần đầu tiên tôi mới thấy một người thành thạo như vậy. Thường thì người ta lấy tay gõ nhẹ vào mặt micrô xem có tiếng loa kêu lóc cóc trở lại không, hoặc có người đếm một...hai...Tôi rất sung sướng và nói ngay với bạn: Chưa có người nào am hiểu về micrô như vậy và rất tôn trọng quần chúng. Sau đấy, Cụ Hồ chậm rãi đọc một mạch hết bản Tuyên ngôn Độc lập. (Trích hồi ký của ông Nguyễn Dực).    

Nguyễn Xuân sưu tầm

 

Cập nhật ngày Thứ sáu, 03 Tháng 9 2010 15:18
 
Đề cương tuyên truyền kỷ niệm 65 năm cách mạng tháng 8 (19/8/1945-19/8/2010) và Quốc khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945-02/9/2010)

I. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 – sự kiện vĩ đại của dân tộc và cách mạng Việt Nam.

1. Bối cảnh lịch sử và diễn biến

Đầu năm 1945, quân đội Xô Viết liên tiếp giành thắng lợi quyết định trên chiến trường Châu Âu, giải phóng một loạt nước. Ngày 16-4-1945 chiến dịch tiến công Beclin thắng lợi, Đức phải buộc phải ký văn bản đầu hàng Liên Xô và các nước đồng minh vô điều kiện, lò lửa chính của chiến tranh thế giới thứ hai bị dập tắt. Ngày 8 – 8 -1945 Liên Xô tuyên chiến với Nhật. Chiến thắng của Hồng quân Liên Xô và các lực lượng chống phát xít đối với quân phiệt Nhật đã chấm dứt chiến tranh thế giới thứ hai, tạo điều kiện cho nhân dân các nước thuộc địa và nửa thuộc địa châu Á trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

phu_kham_sai
Phủ Khâm Sai (Bắc Bộ Phủ) 19/8/1945.

Trong nước, trải qua nhiều thử thách cam go và các cuộc diễn tập quan trọng như Cao trào Xô – Viết Nghệ Tĩnh 1931 – 1939, Cao trào Dân chủ 1936 – 1939, phong trào kháng Nhật cứu nước ngày càng dâng lên mạnh mẽ.

Tình hình quốc tế, trong nước có nhiều thuận lợi đòi hỏi Đảng ta phải có những quyết sách sáng suốt nhằm đẩy mạnh công tác chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền.

Ngày 9 – 3-1945, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương mở rộng quyết định phát động phong trào kháng Nhật, cứu nước. Ngày 12-3-1945 ban hành rộng rãi Chỉ thị “Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Chỉ thị quan trọng này đã thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết, chủ động và sáng tạo của Đảng, chỉ rõ phương hướng và biện pháp hành động cách mạng đúng đắn trong cao trào kháng Nhật, cứu nước, mở đường đưa Cách mạng Tháng Tám đến thắng lợi.

Từ ngày 15 đến ngày 20-4-1945, Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ họp, quyết định phát triển lực lượng vũ trang, nửa vũ trang và thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân, xây dựng 7 chiến khu chống Nhật trong cả nước.

Ngày 16.4.1945, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị “về việc tổ chức các Ủy ban Dân tộc giải phóng” và chuẩn bị thành lập Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời cách mạng Việt Nam.

Từ tháng 4-1945 trở đi, cao trào kháng Nhật, cứu nước dâng lên mạnh mẽ, lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang phát triển nhanh, phong trào đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị và khởi nghĩa từng phần diễn ra khắp các địa phương. Nhiều hoạt động được đẩy mạnh như tuyên truyền xung phong có vũ trang cướp kho thóc của Nhật để cứu đói, xây dựng các đội tự vệ vũ trang du kích cứu quốc, mở trường đào tạo cấp tốc cán bộ quân sự, phát động chiến trang du kích ở những nơi có đủ điều kiện, giải phóng từng vùng, mở rộng căn cứ địa cách mạng… Các lực lượng cách mạng đã phối hợp với quần chúng giải phóng một loạt các xã, châu, huyện thuộc các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Quảng Ngãi, Bắc Giang.

Ngày 12-8-1945 Ủy ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng ra mệnh lệnh khởi nghĩa. Ngày 13-8-1945, Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc ra Quân lệnh số 1, hạ lệnh tổng khởi nghĩa. Ngày 14 và 15-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng bàn kế hoạch phát động và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa.

Ngày 16-8-1945, Quốc dân Đại hội tại Tân trào đã nhiệt liệt tán thành và ủng hộ chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, thành lập Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam do đồng chí Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước ta đồng loạt đứng dậy, tiến hành cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Cuộc Tổng khởi nghĩa diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ, chúng ta đã giành một phần ở miền Nam và ở các thị xã Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh, Hội An, Quảng Nam. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa ở Hà Nội ngày 19-8 đã cổ vũ và thúc đẩy mạnh mẽ các tỉnh, thành phố khác vượt qua mọi khó khăn, gấp rút nổi dậy giành chính quyền. Ngày 23-8 khởi nghĩa thắng lợi ở Huế và các thị xã: Bắc Cạn, Hòa Bình, Hải Phòng, Hà Đông, Quảng Trị, Quảng Bình, Bình Định, Lâm Viên, Gia Lai, Tân An, Bạc Liêu. Thắng lợi của khởi nghĩa Sài Gòn ngày 25-8 có ảnh hưởng quyết định đối với khởi nghĩa ở các tỉnh miền Nam như Sóc Trăng, Vĩnh Long, Thủ Dầu Một, Châu Đốc, Trà Vinh, Biên Hòa, Tây Ninh, Bến Tre, Sa Đéc… Ở Côn Đảo, Đảng bộ nhà tù Côn Đảo đã lãnh đạo các chiến sĩ cách mạng bị giam cầm nổi dậy giành chính quyền, làm chủ trên đảo.

Chỉ trong vòng 15 ngày cuối tháng 8 -1945, Cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi hoàn toàn. Lần đầu tiên trong lịch sử, chính quyền trong cả nước thuộc về tay nhân dân.

Ngày 2-9-1945, tại vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), trước hàng chục vạn nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới: Nước Việt Nam dân chủ công hòa ra đời.

2. Nguyên nhân thắng lợi.

- Cách mạng Tháng Tám thành công do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên nhân quan trọng, có ý nghĩa quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt, kiên quyết và khôn khéo của Đảng.

- Cách mạng Tháng Tám thành công do Đảng ta đã dày công rèn luyện lực lượng chủ lực của cách mạng là giai cấp công nhân, nông dân qua các cao trào cách mạng; đã khơi dậy và phát huy cao độ truyền thống yêu nước của dân tộc, tập hợp được đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia vào cuộc cách mạng.

- Thắng lợi của cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật nhận thức được thời cơ, chủ động đón thời cơ và kiên quyết chớp thời cơ.

- Trải qua 15 năm đấu tranh cực kỳ gian khổ và anh dũng dưới sự lãnh đạo của Đảng, đã có biết bao đồng bào, chiến sĩ đã không hề tiếc máu xương, hy sinh oanh liệt vì mục tiêu độc lập dân tộc.

- Cuộc Cách mạng Tháng Tám được tiến hành trong bối cảnh quốc tế thuận lợi. Chủ nghĩa Phát xít Đức, Ý, Nhật đã bị đánh bại, phong trào đấu tranh giải phóng của các dân tộc bị áp bức và của các lực lượng tiến bộ trên thế giới phát triển mạnh.

3. Ý nghĩa lịch sử:

- Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, nhân dân ta đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân, đế quốc trong gần một thế kỷ và chế độ quân chủ chuyên chế mấy nghìn năm, lập nên nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa – nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Châu Á, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ. Đảng ta từ một đảng hoạt động bí mật, bất hợp pháp trở thàn một Đảng cầm quyền. Từ đây, đất nước, xã hội, dân tộc và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

- Cách mạng Tháng Tám đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Đây là quá trình phát triển tất yếu của lịch sử dân tộc trải qua mấy nghìn năm phấn đấu, đỉnh cao của ý chí quật cường, sức mạnh cố kết cộng đồng, tầm cao trí tuệ của dân tộc hòa quyện với những tư tưởng cách mạng và khoa học của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh với xu thế của thời đại vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

- Với thắng lợi này, cách mạng nước ta đã chuyển sang một giai đoạn mới, nước ta không những trở thành một nước độc lập, tự do mà còn trở thành một trong những nước đi tiên phong trong việc xây dựng chế độ mới – chế độ dân chủ nhân dân tiến lên chủ nghĩa xã hội.

- Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám còn khẳng định rằng, trong điều kiện trào lưu của cách mạng vô sản, cuộc cách mạng do một đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo không chỉ có thể thành công ở một nước tư bản kém phát triển, nơi mắt xích yếu nhất của chủ nghĩa đế quốc mà còn có thể thành công ở ngay một nước thuộc địa nửa phong kiến lạc hậu để đưa cả dân tộc đó đi lên theo con đường của chủ nghĩa xã hội. Đây là sự phát triển đầy sáng tạo lý luận Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám cổ vũ phong trào đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, báo hiệu một kỷ nguyên mới của loài người: kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.

4. Một số bài học chủ yếu.

- Xây dựng một Đảng Mác – Lê nin vững mạnh về tư tưởng, có đường lối cách mạng đúng đắn, có tổ chức Đảng trong sạch, ăn sâu bám rễ trong quần chúng.

- Nắm vững nguyên tắc giành, giữ và bảo vệ chính quyền; kiên quyết dùng bạo lực cách mạng và sử dụng bạo lực cách mạng hợp lý đập tan bộ máy nhà nước cũ, lập ta nhà nước của nhân dân.

- Nhận thức và nắm bắt được thời cơ, đề ra những chỉ đạo và chính sách chính xác, kịp thời.

- Xây dựng và củng cố lực lượng cách mạng, phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại.

II. Giá trị thực tiễn của Cách mạng Tháng Tám 1945 trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước 65 năm qua.

1. Cách mạng Tháng Tám với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

1.1- Cách mạng Tháng Tám đã mở đầu sự đổi mới sâu sắc và toàn diện cho dân tộc ta, nhất là sự thay đổi về chính trị. Chế độ thuộc địa và chuyên chế phong kiến đã được thay thế bới chính thể dân chủ cộng hòa – nhà nước dân chủ kiểu mới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Tư tưởng, quan điểm về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam được khởi nguồn từ cách mạng Tháng Tám đã khẳng định sự đổi mới căn bản thể chế chính trị, tạo động lực mới cho việc xây dựng và phát triển đất nước từ đó đến nay.

1.2- Cách mạng Tháng Tám khởi đầu sự giải phóng xã hội. Nhà nước cách mạng ngay từ khi thành lập đã quan tâm đến quyền tự do, dân chủ, tự do tôn giáo, tín ngưỡng, quyền ứng cử, bầu cử, tham gia xây dựng chính quyền. Các Hiến pháo 1946, 1959, 1980, 1992 ra đời là sự tiếp nối tư tưởng, tinh thần của Cách Mạng Tháng Tám, bảo đảm ngày càng đầy đủ quyền tự do dân chủ cho nhân dân.

1.3- Đảng và Nhà nước ta đã phát huy bài học của Cách mạng Tháng Tám trong việc huy động lực lượng quần chúng tham gia các phong trào cách mạng, phng trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động lớn trong toàn xã hội, quan tâm đến lợi ích chính đáng, trực tiếp của nhân dân, dựa vào dân, phát huy vai trò sáng tạo của nhân dân để lãnh đạo công cuộc tái thiết đất nước, khắc phục hậu quả chiến tranh, cải tạo nền kinh tế, xây dựng và hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất… Đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đang được thể chế hóa, hệ thống pháp luật, chính sách ngày càng được hoàn thiện, đồng bộ, tạo điều kiện khơi dậy sức mạnh nội lực, tranh thủ ngoại lực cho sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

1.4- Từ Cách mạng Tháng Tám, các quan điểm chiến lược về con người, về giáo dục và đào tạo con người mới được hình thành và phát triển. Nhiều chủ trương, chính sách lớn về phát triển văn hoá, giáo dục được ban hành, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng, quyền lợi của mọi người dân, góp phần nâng cao dân trí, phục vụ tốt cho công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Những chính sách về lao động, việc làm, bảo vệ người lao động, chăm sóc thương binh, gia đình thương binh, gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng… được chú trọng hoàn thiện. Hệ thống phúc lợi và an sinh xã hội từng bước được mở rộng, hướng tới bảo đảm công bằng trong các chính sách hỗ trợ, không để sót đối tượng, nhằm bảo đảm cho mọi thành viên trong xã hội được bảo vệ về cuộc sống.

1.5- Phát triển những tư tưởng chiến lược về ngoại giao từ Cách mạng Tháng Tám, chúng ta đã giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổm, sự lãnh đạo của Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, ổn định chính trị - xã hội và trật tự, an toàn xã hội, phát triển quan hệ đối ngoại mạnh mẽ.

2. Cách mạng Tháng Tám 1945 với các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

2.1- Từ kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Tám, chúng ta luôn nắm vững đường lối tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, gắn nhiệm vụ dân tộc với nhiệm vụ quốc tế, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, con đường kiên quyết dùng bạo lực cách mạng để đập tan bạo lực phản cách mạng, giương cao ngọn cờ hòa bình, tranh thủ các khả năng hòa bình có thể được nhằm tạo dựng nền hòa bình lâu dài trong độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

2.2- Ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tạo nên sức mạnh đoàn kết mới cho tất cả những người Việt Nam yêu nước, tập hợp được mọi tầng lớp nhân dân không phân biệt trai, gái, trẻ, già, giàu nghèo, tín ngưỡng, dân tộc… dựa trên nền tảng liên minh công – nông – trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thắng lợi của các cuộc kháng chiến cứu nước là thắng lợi của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, là bước phát triển mới về chất của chiến tranh yêu nước Việt Nam.

2.3- Phát triển những quan điểm về xây dựng lực lượng vũ trang toàn dân từ Cách mạng Tháng Tám, qua hai kháng chiến cứu nước, chúng ta đã xây dựng và tổ chức quân đội kiểu mới – quân đội của dân tộc, của nhân dân, từ nhân dân và vì nhân dân. Đường lối chiến tranh vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, xây dựng kết hợp với bảo vệ và củng cố chế độ mới, xây dựng căn cứ đại – hậu phương trong chiến tranh, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tiền tuyến và hậu phương được vận dụng và phát triển sáng tạo.

III- Phát huy tinh thần Cách mạng Tháng Tám, thành tựu 65 năm xây dựng và bảo vệ đất nước vào sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN giai đoạn hiện nay.

1. Tích cực, chủ động nắm bắt thời cơ, đẩy lùi nguy cơ và thách thức trong thời kỳ đổi mới, hội nhập hiện nay.

Phát huy tinh thần giữ vững nguyên tắc, mềm dẻo, sáng tạo trong sách lược, chủ động nắm bắt thời cơ, hội nhập quốc tế hiện nay, Đảng, Nhà nước và toàn dân ta đang chung sức giải quyết những vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách để đưa đất nước phát triển bền vững. Chúng ta phải luôn quán triệt sâu sắc phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra và vận dụng thành công trong thời kỳ giành và giữ chính quyền năm 1945 – 1946, phân tích, dự đoán, nắm chắc và tận dụng thời cơ để mang lại lợi ích to lớn cho quốc gia, cộng đồng, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

2. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trải qua thử thách thời gian và lịch sử, cuộc Cách mạng Tháng Tám không chỉ khẳng định ý nghĩa thời sự nóng bỏng mà ngày càng khẳng định những giá trị lịch sử lâu bền. Những giá trị đó đang được phát huy bởi các mục tiêu, nhiệm vụ: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; giữ vững chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa dân tộc; giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa… Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội gắn bó mật thiết và thống nhất trong toàn bộ tiến trình cách mạng và trong công cuộc đổi mới hiện nay.

3. Nắm vững các quan điểm phát triển trong sự nghiệp CNH – HĐH, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước.

Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững. Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thực hành dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển. Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học công nghệ ngày càng cao đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

4. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, không ngừng hoàn thiện hệ thống chính trị.

Nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng cần tập trung vào một số nhiệm vụ, giải pháp sau: tăng cường xây dựng Đảng về chính trị, nang cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận; rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân; tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng về hệ thống chính trị; kiện toàn tổ chức cơ sở Đảng và nâng cao chất lượng đảng viên; đổi mới công tác cán bộ, coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ; đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; tiếp tục đổi mới, phương thức lãnh đạo của Đảng.

Đẩy mạnh việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thực sự của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế và mọi mặt đời sống xã hội; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, với nhân dân, với thị trường. Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của Nhà nước theo pháp luật; tăng cường pháp chế XHCN và kỷ luật, kỷ cương. Xây dựng thể chế và cơ chế vận hành cụ thể bảo đảm nguyên tắt tất cả quyền lực thuộc về nhân dân và nguyên tắt quyền lực là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và cơ chế kiểm tra, giám sát các cơ quan trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi các văn bản pháp luật; các thiết chế thi hành pháp luật được bảo đảm vận hành có hiệu quả nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đáp ứng tốt yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và thực hiện các cam kết quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Tiếp tục xây dựng từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền.

Tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước. Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Xây dựng nền hành chính thống nhất, thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiệu quả, hiệu lực. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng hiện đại, tinh gọn và hợp lý. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính, giảm mạnh và bãi bỏ các loại thủ tục hành chính gây phiền hà cho tổ chức và công dân. Đẩy mạnh cải cách tư pháp, xây dựng hệ thống tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý. Tiếp tục đổi mới tổ chức hoạt động của chính quyền địa phương.

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu tình hình mới. Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm. Tiếp tục hoàn thiện thể chế và đẩy mạnh cải cách hành chính phục vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tập trung vào các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng, lãng phí; chú trọng các biện pháp phòng chống tham nhũng có hiệu quả. Thực hiện chế độ công khai, minh bạch về cơ chế, chính sách, các dự án đầu tư, xây dựng cơ bản, mua sắm từ ngân sách nhà nước, huy động đóng góp của nhân dân, quản lý đất đai, tài sản công, công tác tiếp nhận, bổ nhiệm cán bộ. Xử lý nghiêm minh, kịp thời, công khai cán bộ tham nhũng. Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ người tích cực đấu tranh chống tham nhũng. Phát huy vai trò của cơ quan dân cử, của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng và nhân dân trong việc giám sát cán bộ, công chức, phát hiện đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí.

Kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám 1945 và Quốc khánh 2-9 trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang thi đua lập thành tích sôi nổi chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp hướng tới Đại hội lần thứ XI của Đảng, chúng ta càng hiểu rõ giá trị lịch sử, thực tiễn sâu sắc mà cách mạng Tháng Tám đã mang lại; nhận thức đầy đủ trách nhiệm của thế hệ sau trong việc vận dụng và phát triển những bài học kinh nghiệm quý giá, nhưng tư tưởng mang tầm thời đại của cách mạng Tháng Tám vào công cuộc đổi mới và đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG

 
Ấn phẩm “Kinh tế Hải Phòng- 25 năm đổi mới và phát triển (1986- 2010)”: Công trình nghiên cứu có giá trị thực tiễn sâu sắc

Sau hơn một năm biên tập công phu, Phó giáo sư, Tiến sĩ, Phó chủ tịch UBND thành phố Đan Đức Hiệp ra mắt các nhà nghiên cứu, nhà quản lý, học sinh, sinh viên và bạn đọc quan tâm đến Hải Phòng cuốn sách “Kinh tế Hải Phòng- 25 năm đổi mới và phát triển (1986- 2010)”. Như lời mở đầu cuốn sách của đồng chí Nguyễn Văn Thuận, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND thành phố : “ …cuốn sách là công trình tổng kết quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, vận dụng vào Hải Phòng trong 25 năm đổi mới. Tác giả không những phân tích, đánh giá, đưa ra những bài học kinh nghiệm trong tiến trình đổi mới và phát triển của thành phố Hải Phòng sau 25 năm (1986- 2010) mà còn tiên liệu, dự báo và đề xuất các định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cho sự phát triển tương lai của Hải Phòng tới những năm 2020 và 2050”.

hiep

Với bảy chương, cuốn sách cung cấp cho người đọc những điều bổ ích về thực tiễn và kinh nghiệm  phát triển kinh tế- xã hội của Hải Phòng. Giáo sư, Tiến sĩ Mai Ngọc Cường, Tổng biên tập Tạp chí Kinh tế và Phát triển- Trường đại học Kinh tế Quốc dân tổng quát những kinh nghiệm đó thành ba vấn đề lớn. Thứ nhất, đó là sự chủ động, sáng tạo, nhạy bén và quyết tâm cao trong chỉ đạo, lãnh đạo và tổ chức thực hiện những chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế của Đảng bộ và chính quyền các cấp ở thành phố Hải Phòng dưới ánh sáng đổi mới và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thứ hai, cuốn sách nêu bật những thành tựu kinh tế Hải Phòng đạt được trên các lĩnh vực then chốt như công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp, nông thôn, phát triển doanh nghiệp, thu ngân sách và huy động nguồn lực đầu tư, quản lý, phát triển đô thị và xây dựng kết cấu hạ tầng…tác động đến các lĩnh vực xã hội như phát triển giáo dục- đào tạo, y tế, văn hóa thông tin, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Thứ ba, trên cơ sở phân tích sâu sắc đặc điểm, xu hướng phát triển kinh tế thế giới, chiến lược phát triển kinh tế Việt Nam, tác giả dự báo sự phát triển của thành phố Hải Phòng đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2050.

Cuốn sách dẫn dắt người đọc đi từ những năm đầu của thời kỳ đổi mới, những khó khăn vướng mắc Hải Phòng phải vượt qua, từ thời kỳ tan rã của Liên Xô và hệ thống XHCN ở Đông Âu đến hiện tại. Những chính sách mở cửa, bước đi đột phá của Hải Phòng trong lĩnh vực kinh tế như đẩy mạnh phát triển kinh tế đối ngoại, giải pháp quan trọng cho đầu tư, phát triển; các bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển mạnh từ nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu sang công nghiệp và dịch vụ với tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa ngày càng cao, hướng mạnh về xuất khẩu. Giai đoạn tiếp theo chủ động hội nhập kinh tế- quốc tế, đẩy nhanh tiến trình phát triển kinh tế, nâng cao vị thế của Hải Phòng đối với cả nước và quốc tế. 5 năm gần đây được tác giả đánh giá là giai đoạn tạo đà cho sự cất cánh của thành phố với các mục tiêu cụ thể như đẩy mạnh cải cách hành chính, mở rộng không gian kinh tế, phát triển hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đồng bộ, hiện đại…

Có thể nói, đây là bức tranh toàn cảnh về kinh tế Hải Phòng, công trình nghiên cứu công phu, tâm huyết của nhà quản lý, nhà giáo, nhà khoa học Đan Đức Hiệp.

(nguồn Báo HP)

 

Cập nhật ngày Thứ tư, 11 Tháng 8 2010 10:35